small business

Khái quát về doanh vừa và nhỏ theo quan điểm của VN và thế giới

Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNV&N ) của một số nước trên thế giới

Tiêu chí DNN&V thường là dựa vào qui mô sản xuất của doanh nghiệp. Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để định nghĩa DNN&V.

Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNN&V như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp… Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp.

Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về: số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận. Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNN&V.

 Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNV&N ) của một số nước trên thế giới
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNV&N ) của một số nước trên thế giới

>>Chúng tôi nhận viết thuê luận văn thạc sĩ với giá rẻ nhất thị trường

Thực tế mỗi nước có qui định khác nhau về số lao động và vốn cho DNN&V. Về số lao động thì thường dưới 100 người hoặc dưới 200 người. Có nước còn qui định số lao động cho ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.

Khái niệm DNN&V của Việt Nam

Ở Việt Nam trước đây có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNN&V thì định nghĩa DNN&V đã được hiểu thống nhất: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất – kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động”.

Như vậy tiêu chí để xác định DNN&V là:

– Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặc

– Có số lượng lao động dưới 300 người.

Theo Điều 4: “Nghị định này áp dụng đối với các DNN&V bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã ; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của của Chính phủ” (Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 109/2004/NĐ-CP).

Bên cạnh khái niệm trên, trong một số trường hợp người ta còn dùng thêm khái niệm doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa như sự phân loại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam:

“Doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có số lao động ít hơn 50 người. Các doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 49 lao động là doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp có số lao động từ 1 đến 9 người được coi là doanh nghiệp cực nhỏ”.

Tiêu chí để xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng lãnh thổ
Tiêu chí để xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước và vùng lãnh thổ

Với khái niệm này thì doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp còn lại trong khái niệm của Nghị định 90 tức là doanh nghiệp có lao động từ 50 đến 299 người. Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNN&V của Nghị định 90 đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý “có những doanh nghiệp có số lao động vượt xa con số 300 (có trường hợp 500-600 lao động), nhưng vì vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn dược coi DNN&V. Ngược lại, có doanh nghiệp có mức vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào “đội ngũ” DNN&V. Mặt khác việc khái niệm DNN&V không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì “lĩnh vực sản xuất thì 10 24 tỷ đồng là ít, nhưng trong một số lĩnh vực dịch vụ thì lại nhiều”. Hơn nữa, tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo vốn đăng ký do doanh nghiệp tự khai thường “mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát”. Điều này sẽ làm việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNN&V gặp nhiều khó khăn.

Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành định nghĩa mới về DNN&V trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Nghị định này, DNN&V đã được phân theo khu vực kinh doanh và có phân loại cụ thể cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như bảng sau:

Xem thêmĐặc điểm hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ, lao động ít

Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNV&N )ngày càng tăng mạnh. Như tên gọi của mình, DNV&N mang những đặc điểm riêng rất khác biệt so với các doanh nghiệp lớn trên thị trường. DNV&N có những đặc điểm hoạt động rất riêng.

Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít

Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các DNV&N trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷ đồng/doanh nghiệp. Theo quy định của Luật doanh nghiệp, DNV&N là các doanh nghiệp có số vốn pháp định không vượt quá 10 tỷ, có số lao động không vượt quá 300 lao động. Với số vốn nhỏ như vậy, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất là khó khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường. Nhất là khi nền kinh tế có biến động lớn, ví dụ biến động về đầu vào, DNV&N khó có khả năng chống đỡ và dễ dẫn đến bị phá sản. Đồng thời, với số lao động ít, các DNV&N sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhất là với tình trạng ít lao động, DNV&N sẽ khó có được các lao động với tay nghề cao. Với số lao động ít như vậy, sẽ khó mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên. Mặt khác đa số người lao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên môn giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các DN lớn trên thị trường, điều này khiến các DNV&N gặp khó khăn trong quá trình tuyển dụng lao động và phải đầu tư nhiều hơn cho công tác marketing tuyển dụng lao động.

Doanh nghiệp nhỏ, lao động ít
Doanh nghiệp nhỏ, lao động ít

>> Chúng tôi nhận viết thuê luận văn thạc sĩ Toàn Quốc

Đa số các DNV&N là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Các DNV&N chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặc điểm về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ. Điều này tạo khó khăn cho việc quản lý các DNV&N. Nhất là đối với các doanh nghiệp tư nhân hoạt động linh hoạt nhưng kém hiệu quả. Các doanh nghiệp tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình hoạt động chưa có một tầm nhìn chiến lược hoạt động cho doanh nghiệp của mình. Và trong khi vận hành sản xuất kinh doanh, khi că một biến cố xảy ra thì không có kinh nghiệm chống đỡ hoặc không đủ khả năng chống đỡ, dẫn đến thua lỗ hoặc nặng hơn là phá sản. Việc quản lý các doanh nghiệp tư nhân cũng rất khó khăn. Nhiều doanh nghiệp còn cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiện đúng chế độ kế toán thống kê. Để quản lý tốt các DNV&N, đòi hỏi một sự theo dõi sát sao và thực sự có hiệu quả. Như vậy có thể mới kiểm soát được hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.

Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều

Không kể các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạt động ổn định, đa số các DNV&N đều là các doanh nghiệp tư nhân được thành lập trong hoặc sau  thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các doanh nghiệp Nhà nước vừa được tách ra. Với những DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng ngũ những doanh nghiệp lớn. Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình doanh nghiệp này chưa nhiều. Với số vốn ít và bề dày kinh nghiệm hạn chế, các DNV&N gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡ với những thay đổi trong quá trình hoạt động của mình.

Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu

Quản lý lạc hậu
Quản lý lạc hậu

Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các doanh nghiệp của nước ta do đặc điểm nền kinh tế chưa thực sự phát triển. Ở doanh nghiệp hiện nay, một thực trạng phổ biến trong các DNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 năm trong ngành điện tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 15 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của  chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 – 50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp.

Nhiều DNV&N rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường.

Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm và phán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNV&N của  trước áp lực cạnh tranh quốc tế.

Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động

Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạt nhất. Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác động và phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó. Với tính năng động như vậy, các DNV&N đã đạt được hiệu quả trong hoạt động của mình và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế. Sự đa dạng về loại hình hoạt động, phương thức quản lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ đứng vững được trong thị trường.

Tham khảo: Các loại hình doanh nghiệp Việt Nam

Cán cân thương mại

8 nhân tố ảnh hưởng lên biến động tỷ giá hối đoái

Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng ngắn hạn cũng như dài hạn đến tỷ giá, bao gồm các yếu tố sau đây:

1. Đầu tư ra nước ngoài

Cư dân trong nước muốn mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp…) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu) cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm.

2. Lạm phát

Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nước. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên tCó thể thấy, tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn thay đổi. Có rất nhiều nhân tố tác động gây ra sự biến động của tỷ giá hối đoái với những mức độ và cơ chế khác nhau.

3. Cán cân thương mại

Cán cân thương mại
Cán cân thương mại

>> Chúng tôi nhận viết luận văn thạc sĩ thuê cam kết : Không trùng lặp – Điểm cao – Gía cả phải chăng

Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường. Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.

4. Thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng

Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng.

5. Tâm lý số đông

Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt động mua bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại.

6. Năng suất lao động

Nếu năng suất lao động của một nước cao hơn các nước khác thì những nhà kinh doanh trong nước có thể hạ giá hàng nội tương đối so với hàng ngoại và vẫn thu được lãi. Kết quả là cầu về hàng nội sẽ tăng vọt lên và đồng nội tệ có xu hướng tăng giá bởi vì hàng nội sẽ tiếp tục được bán tốt với một trị giá cao hơn của đồng nội tệ. Mặt khác, nếu năng suất lao động của nước đó kém hơn thì hàng hóa nước đó trở nên tương đối đắt hơn và đồng tiền có xu hướng giảm giá. Về lâu dài, do năng suất lao động của một nước cao hơn tương đối so với các nước khác nên đồng tiền của nước đó tăng giá.

7. Chính sách tỷ giá của Chính phủ

thông qua các công cụ như: quy định hạn chế đối tượng, mục đích, số lượng mua ngoại tệ, lãi suất tái chiết khấu, thuế quan, hạn ngạch, giá cả nếu có tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.

8. Vai trò quản lý của Ngân hàng trung ương ( NHTW )

Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý. Do đó vai trò can thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng. NHTW tự biến mình thành một bộ phận của thị trường, quyện chặt với thị trường, lúc với tư cách người mua lúc khác là tư cách người bán, nhằm tác động về phía cung hay cầu của quỹ ngoại hối nhằm cho ra một tỷ giá phù hợp như ý đồ của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên điều kiện vật chất có thể can thiệp là thực lực về tiềm năng quốc gia biểu hiện bằng quỹ ngoại tệ bình ổn giá, bao gồm ngoại tệ dự trữ quốc gia.

Trong thực tế, tỷ giá hối đoái bị chi phối đồng thời bởi tất cả các yếu tố trên với mức độ mạnh yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnh nhất định. Việc tách rời và lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làm không thể. Các nhân tố trên không tách rời mà tác động tổng hợp, có thể tăng cường hay át chế lẫn nhau, đến tỷ giá hối đoái làm cho tỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng. Nhưng để nghiên cứu hết tác động của các yếu tố nên tỷ giá là một việc làm rất khó khăn. Vì thế trong khóa luận này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên điều hành chính sách tỷ giá của NHNN.

Xem thêm:

Ba chế độ tỷ giá cơ bản

Phân biệt các chế độ tỷ giá hối đoái

Tỷ giá có ý nghĩa quan trọng đối với mọi chủ thể tham gia vào các giao dịch đối ngoại cho dù đó là các thương gia hoặc các nhà đầu tư. Tỷ giá cũng đóng vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ, sự thay đổi của tỷ giá có ảnh hưởng đến hầu như toàn bộ đời sống kinh tế xã hội.

Mức độ can thiệp của các nhà nước khác nhau đến tỷ giá đã tạo nên những khác nhau về cơ chế, nguyên tắc điều hành tỷ giá và các chính sách liên quan giữa các quốc gia. Nhưng tựu chung lại có ba chế độ tỷ giá cơ bản đó là chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn và chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. Ngay trong mỗi quốc gia, trong những thời kỳ khác nhau cũng có sự lựa chọn khác nhau về mức độ cố định, thả nổi hoặc có sự trung hoà nào đó giữa hai chế độ này.

Ba chế độ tỷ giá cơ bản
Ba chế độ tỷ giá cơ bản

>>Thuevietluanvan.com nhận làm luận văn thạc sĩ thuê UY TÍN – CHẤT LƯỢNG 

Chế độ tỷ giá cố định

Một quốc gia thi hành chế độ tỷ giá cố định tức là neo đồng tiền của mình vào vàng, vào một đồng tiền nào đó hoặc một nhóm các đồng tiền. Sự duy trì chế độ tỷ giá cố định hết sức khó khăn, nó đôi khi đòi hỏi tiềm lực rất lớn từ phía chính phủ và NHNN.

Khi đồng nội tệ bị định giá thấp, NHTN phải mua nội tệ và bán ngoại tệ. Việc làm này dẫn đến sự thu hẹp mức cung nội tệ và tăng cung ngoại tệ từ đó ổn định được tỷ giá nhưng sẽ dẫn đến mất dự trữ ngoại hối. Tương tự như vậy, khi có dấu hiệu làm tăng giá nội tệ, chính phủ sẽ bán đồng nội tệ để thu ngoại tệ và kết quả sẽ là ổn định được tỷ giá.

Trong chế độ tỷ giá cố định thuộc hệ thống Bretton woods, người ta coi tỷ giá chỉ được thay đổi khi một nước bị mất cân bằng cơ bản, nghĩa là cán cân thanh toán bị thiếu hụt hay thặng dư dai dẳng. Để duy trì tỷ giá cố định khi mà các nước bị thiếu hụt cán cân thanh toán và bị mất dự trữ quốc tế thì IMF sẽ cho vay dự trữ quốc tế do các nước thành viên khác đóng góp.

Kết quả là IMF có quyền quyết định các điều kiện cho vay với các nước đi vay, có thể khuyến khích các nước bị thiếu hụt theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt, những chính sách sẽ làm cho đồng tiền của nước đó vững mạnh lên hoặc sẽ thủ tiêu được sự thiếu hụt của cán cân thanh toán. Nếu những khoản cho vay đó không ngăn chặn được sự sụt giảm của đồng tiền, thì nước đi vay thiếu hụt được phép phá giá đồng tiền nước mình bằng cách ấn định một tỷ giá mới thấp hơn.

Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn

Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn là chế độ, trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW. Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, sự biến động của tỷ giá luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

Chính phủ tham gia thị trường ngoại hối với tư cách là một thành viên bình thường, nghĩa là chính phủ có thể mua vào hay bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho mục đích hoạt động của chính phủ chứ không nhằm mục đích can thiệp ảnh hưởng lên tỷ giá hay để cố định tỷ giá.

Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý

Khi NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối để tác động đến tỷ giá hối đoái, hệ thống tỷ giá này được gọi là hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý.

Sau khi hệ thống Bretton woods bị sụp đổ, năm 1973 hầu hết các đồng tiền đều thả nổi nhưng thả nổi không hoàn toàn. Nhiều quốc gia kể cả Mỹ, Chính phủ đều phải can thiệp vào thị trường ngoại hối để tác động đến tỷ giá tiền tệ của nước mình.

Từ thỏa hiệp Jamaica năm 1976, các nước phương tây đã công khai chấp nhận hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý, vì cả hệ thống tỷ giá hối đoái cố định cứng nhắc và hệ thống tỷ giá thả nổi tự do đều có những tác động không tốt đến nền kinh tế trong nước và đến sự chuyển dịch tài nguyên, chuyển dịch ngoại tệ trên bình diện quốc tế.

Như vậy vấn đề đặt ra là chính phủ cần có những biện pháp thích hợp để duy trì một tỷ giá hối đoái thích hợp, nhằm duy trì xuất khẩu, thu về nhiều ngoại tệ và nhập khẩu vật tư, máy móc, nguyên vật liệu cần thiết để phục vụ cho nền kinh tế trong nước, đồng thời góp phần vào việc điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế.

Tóm lại, chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, chế độ tỷ giá cố định hay chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết cũng đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Việc lựa chọn chế độ tỷ giá nào phụ thuộc vào từng quốc gia với những điều kiện, mục tiêu kinh tế và thị trường cụ thể khác nhau. Phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế của mỗi cơ chế để vận dụng thích hợp với mỗi bối cảnh kinh tế chính trị và xã hội khác nhau là nội dung ưu tiên trong điều hành chính sách tài kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

Xem thêm:

tỷ giá hối đoái

Khái niệm tỷ giá hối đoái và cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái

Tỷ giá là một khái niệm hết sức trừu tượng, đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau về tỷ giá.

1. Khái niệm tỷ giá hối đoái là gì?

Theo quan điểm của Frederic S.Mishkin – trường Đại học Columbia (Mỹ) – Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền tính ra một đồng tiền khác.

Theo điều 6 luật NHNN VN năm 2010 thì tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiến – Giáo trình tài chính quốc tế (trang 58): Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác.

Theo GS.NGƯT Đinh Xuân Trình – Giáo trình thanh toán quốc tế: Giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia được gọi là tỷ giá hối đoái.

Như vậy hiểu theo nghĩa khác nhau thì tỷ giá là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối.

Khái niệm tỷ giá hối đoái
Khái niệm tỷ giá hối đoái

Phân loại : Căn cứ vào cơ chế điều hành tỷ giá có thể phân tỷ giá thành:

Tỷ giá chính thức – Official rate (Ở Việt Nam gọi là tỷ giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng) : Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ.

Tỷ giá chợ đen – Black market rate: Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định.

Tỷ giá cố định – Fixed rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi.

Tỷ giá thả nổi hoàn toàn – Freely floating rate: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp.

Tỷ giá thả nổi có điều tiết – Managed floating rate : Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiền hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

tỷ giá hối đoái
tỷ giá hối đoái

2. Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái

Thuyết ngang giá vàng

Trong chế độ bản vị vàng, cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái là đồng giá vàng, hay còn gọi là ngang giá hàm lượng vàng (gold parity), là tỷ lệ so sánh của một đồng tiền nước này với x đơn vị tiền tệ nước khác trên cơ sở hàm lượng vàng ngang nhau.

Hàm lượng vàng là trọng lượng vàng do luật pháp quy định trong một đơn vị tiền tệ của một nước.

VD : 1 bảng Anh (GBP) = 1/4 ounce vàng

1 đô la mỹ (USD) = 1/20 ounce vàng

Như vậy, tỷ giá hối đoái giữa GBP và USD được xác định là :

GBP/USD = 20/4 = 5

Trong chế độ lưu thông tiền giấy, sự so sánh này chỉ có tính chất tượng trưng mà thôi. Đồng giá vàng mới là cơ sở để tính tỷ giá hối đoái. Nhưng trên thực tế tỷ giá hối đoái trên thị trường thường không cố định mà có thể tăng hoặc giảm xoay quanh ngang giá hàm lượng vàng. Sự tăng giảm tỷ giá là do quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường quyết định.

Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt là do những bất lợi của chế độ bản vị vàng (kiềm chế sự phát triển kinh tế và giao lưu kinh tế quốc tế…) nên phần lớn các nước đã từ bỏ chế độ bản vị vàng vào đầu những năm 30. Đến năm 1971, các nước hoàn toàn bãi bỏ chế độ bản vị vàng.

Bạn đang có nhu cầu làm luận văn hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ để chúng tôi giúp bạn hoàn thành giấc mơ!

Xem thêm: